Sự Phát Triển Của Quá Trình Điều Chỉnh Nuôi-Ăn Và Cảm Xúc

MỘT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG trong năm đầu đời là đạt được sự tự điều chỉnh nội tại việc ăn uống. Trẻ nhũ nhi trở nên ngày càng có nhận thức về no và đói và đáp ứng bằng cách truyền đạt sự thích thú ăn khi đói bụng và ngưng ăn khi trẻ thấy no.

Trong những điều kiện lý tưởng, trẻ nhũ nhi có thể đưa ra dấu hiệu đối với người chăm sóc một cách rõ ràng, người chăm sóc nhận tín hiệu và đáp ứng bằng cách cho trẻ ăn. Và cũng như vậy, trẻ sẽ đưa ra dấu hiệu rõ ràng khi trẻ no và không muốn ăn thêm nữa, và người chăm sóc sẽ ngừng cho ăn.

Sự phát triển của sự tự điều chỉnh nội tại việc ăn uống và cảm xúc gồm ba giai đoạn: (a) điều chỉnh trạng thái, (b) đồng cảm hai chiều, và (c) chuyển sang tự ăn và điều hòa cảm xúc.

Đạt Được Sự Điều Chỉnh Trạng Thái

Khi ở trong tử cung, nhu cầu dinh dưỡng của bào thai được đáp ứng từ mẹ thông qua dây rốn; sau sinh, trẻ phải ra tín hiệu đói và no một cách tích cực và rõ ràng cho người chăm sóc. Trong những tháng đầu đời, trẻ phải thiết lập cả về nhịp thức ngủ, ăn uống và bài tiết. Trẻ nhũ nhi phải ra hiệu bằng cách khóc khi đói và ngưng bú nút khi no.

Hầu hết các trẻ đều có một kiểu khóc riêng biệt khi đói, khác những kiểu khóc khi đau, sợ hay mệt.

Một cách lý tưởng, trong những tuần đầu đời, cha mẹ sẽ ngày càng nhận biết rõ những kiểu khóc riêng biệt này, giúp phát triển hệ thống truyền đạt cho phép trẻ bày tỏ những nhu cầu của mình. Tuy nhiên, để ăn có hiệu quả, trẻ cũng phải có khả năng đạt tới trạng thái tỉnh táo bình ổn.

Nếu trẻ không thể bình tĩnh để ăn, hoặc nếu trẻ quá buồn ngủ để có thể bú nút thì hiệu quả sẽ không đạt được và sẽ thành những bữa ăn căng thẳng cho cả trẻ và cha mẹ. Người chăm sóc phải học cách phân biệt giữa những kiểu khóc của trẻ và những dấu hiệu đói và no để đáp ứng phù hợp, từ đó giúp sự tự điều chỉnh ăn uống của trẻ dễ dàng hơn.

Thiết lập hệ thống tín hiệu giữa trẻ-cha mẹ là cần thiết để tạo sự cân bằng nội tại về dinh dưỡng là trạng thái trong đó những nhu cầu dinh dưỡng để phát triển và tăng trưởng của trẻ được đáp ứng.

Tuy nhiên, nếu kiểu khác của trẻ không rõ ràng, không đặc trưng thì cha mẹ sẽ bị lẫn lộn, họ có thể đáp ứng sai trong việc cho trẻ ăn hoặc không cho trẻ ăn.

Vì thế, việc phân biệt giữa no và đói của trẻ và cha mẹ có thể bị nhầm lẫn, dẫn đến cho ăn quá ít hoặc quá nhiều.

Để trẻ học cách phân biệt, người chăm sóc cần đáp ứng khác nhau với những tín hiệu no, đói và những biểu hiện tình cảm của trẻ.

Điều này bao gồm việc cho ăn khi trẻ ra dấu hiệu đói, không cho ăn khi trẻ muốn được quan tâm hay trấn an bằng những cái vuốt ve, kết thúc bữa ăn khi trẻ thấy no mà không ép trẻ tiếp tục ăn cho hết thức ăn.

Nhờ vào việc cha mẹ có thể phân biệt được trẻ đói, no và những trạng thái cảm xúc của trẻ, trẻ sẽ học được bằng sự liên kết và bắt đầu phân biệt được những trải nghiệm bản thân.

Ngược lại, nếu cha mẹ lý giải sai những tín hiệu cảm xúc của trẻ, cho trẻ ăn khi trẻ biểu hiện muốn được vuốt ve và quan tâm, trẻ có thể lẫn lộn đối với những trải nghiệm cảm xúc và kết hợp ăn với sự trấn an. Như vậy, trẻ có thể sẽ ăn có điều kiện như khi buồn, cô đơn, thất bại.

Sự điều chỉnh việc ăn từ bên ngoài có thể dựa trên những trải nghiệm cảm xúc của trẻ.

Một cách lý tưởng, trẻ đưa ra những tín hiệu rõ ràng, riêng biệt và cha mẹ lý giải những tín hiệu này chính xác. Mặt khác, nếu trẻ đưa ra những tín hiệu đói một cách yếu ớt, thường sẽ làm cha mẹ băn khoăn và gây ra nhầm lẫn.

Ngoài lý do quan tâm đến những nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, cha mẹ có thể cố gắng gạt đi những tín hiệu của trẻ bằng cách cho trẻ ăn dù trẻ không thích và từ chối mở miệng. Việc cho ăn | trở thành một chiến trường đau khổ trong đó trẻ từ chối ăn, còn ba mẹ lại quá lo lắng vì trẻ ăn ít.

Ngược lại, nếu một trẻ đưa tín hiệu nó một cách yếu ớt và dễ dỗ bằng cách cho ăn khi buồn, thì ba mẹ có thể vô thức góp phần làm cho trẻ học cách ăn khi buồn hoặc ăn để tìm niềm vui.

Những năm có tính chất xây dựng sớm này rất quan trọng trong quá trình phát triển khả năng điều chỉnh ăn uống nội tại và ngoại lai cũng như khả năng phân biệt các cảm giác sinh lý về đói và no từ các trải nghiệm cảm xúc của trẻ, như giận dữ, thất bại, mong ước được quan tâm.

Như đã nói ở trên, nếu trẻ đưa ra những tín hiệu no hoặc đói yếu ớt hay người chăm sóc không thể hiểu đúng các tín hiệu và đáp ứng sai lệch, những mô hình nuôi ăn kém thích ứng sẽ xuất hiện trong 3 giai đoạn phát triển này. Nếu những mô hình nuôi ăn kém thích ứng này trở thành mạn tính, sự rối loạn nuôi-ăn sẽ xuất hiện, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Bảng sau sẽ minh họa những mối quan tâm thường gặp nhất của cha mẹ về thái độ ăn uống của trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ và chỉ ra chương sách giải quyết những vấn đề này.

Một trong những than phiền thường gặp nhất của cha mẹ là trẻ không chịu ăn. Thái độ này có thể gặp trong 4 rối loạn nuôi-ăn khác nhau và nhìn chung có thể là một | biểu hiện của thái độ chống đối. 

Sơ đồ Từ Chối Ăn 

Mô tả những dạng từ chối ăn khác nhau và nêu bật vai trò của cân nặng trong chẩn đoán phân biệt.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *