Rối Loạn Nuôi-Ăn Do Sự Điều Chỉnh Trạng Thái

TRONG QUÁ KHỨ, Chatoor và cộng sự đã mô tả rối loạn nuôi-ăn này dưới cái tên Rối Loạn Nuôi-Ăn do Sự Cân Bằng Nội Tại (Chatoor, Dickson, Schaefer, & Egan, 1985; Chatoor và cs, 1997) vì rối loạn này thường bắt đầu sau sanh khi trẻ chuyển đổi từ trạng thái cân bằng nội tại trong tử cung, được nuôi dưỡng liên tục qua dây rốn, sang một trạng thái cân bằng nội tại mới với sự hình thành chu kỳ thức và ngủ, ăn uống và bài tiết.

Để việc nuôi ăn thành công và thiết lập một trạng thái cân bằng nội tại về dinh dưỡng, trẻ cần đạt được và duy trì một trạng thái tỉnh táo trầm ổn. Tuy nhiên, một số trẻ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh trạng thái; trẻ quá kích động và không thể tự trấn tĩnh để có thể bắt đầu hoặc tiếp tục ăn, hoặc khó đánh thức trẻ dậy để bú hay trẻ ngủ trong lúc bú. Vì thế, Chatoor đã đổi tên của rối loạn này thành Rối Loạn Nuôi-Ăn do Sự Điều Chỉnh Trạng Thái.

Những triệu chứng như là khóc quá mức và khó khăn ăn uống ở trẻ nhỏ vẫn thường được đề cập đến trong Y văn dưới cái tên Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi (Miller – Loncar, Bigsby, High, Wallach, & Lester, 2004; Zwart, Vellema – Goud, & Brand, 2007). Đặc điểm nổi bật trong Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi là khóc quá mức, thường được định nghĩa theo quy luật tiêu chí 3 của Wessel: khóc 3 giờ hoặc hơn mỗi ngày, ít nhất 3 ngày trong tuần, trong ít nhất 3 tuần (Wessel, Cobb, Jackson, Harris, & Detwil, 1954). Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về sự khó ăn của trẻ trong Đau Quận Bụng Nhũ Nhi, bản chất của sự khó ăn này vẫn chưa được xác định.

Những tiêu chí được mô tả sau đây sẽ tập trung vào sự khó khăn ăn uống của những trẻ nhỏ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh trạng thái và những trẻ đã được xem là bị Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi. Tiêu chí chẩn đoán Rối Loạn Nuôi-Ăn do Sự Điều Chỉnh Trạng Thái đã được đề cập trong Phân Loại Chẩn Đoán về Sức Khỏe Tâm Thần và Rối Loạn Phát Triển ở Trẻ Nhũ Nhi và Trẻ Nhỏ: Ấn Bản có Chỉnh Sửa (DC:0–3R; ZERO TO THREE, 2005) và được nhắc đến trong chương Sự Ảnh Hưởng của Tuổi và Giới trong Chẩn Đoán Tâm Thân; Chương Trình Nghiên Cứu cho DSM – V (Narrow, First, Sirovatka, & Regier, 2007), tác giả Chatoor và Ammaniti.

Tiêu Chí Chẩn Đoán

  • Khó khăn ăn uống của trẻ xuất hiện trong những tháng đầu đời và kéo dài

It nhất 2 tuần.

  • Trẻ gặp khó khăn trong việc đạt được và duy trì một trạng thái tỉnh táo

Bình ổn trong lúc ăn; trẻ hoặc là quá buồn ngủ, hoặc là quá kích động và/ hoặc rất khó chịu khi ăn.

  • Trẻ không thể đạt được cân nặng phù hợp tuổi hay sụt cân.
  • Khó khăn ăn uống của trẻ không thể giải thích được do bệnh lý thực thể.

Biểu Hiện Lâm Sàng

Rối loạn nuôi-ăn này bắt đầu trong giai đoạn sau sanh và có đặc điểm là trẻ ăn kém, ăn ít và không đều. Trẻ có rối loạn này biểu hiện những khó khăn trong việc điều chỉnh trạng thái, ảnh hưởng xấu đến khả năng ăn uống một cách hiệu quả.

Trẻ gặp khó khăn trong việc đạt được và duy trì một trạng thái tỉnh táo bình ổn cần thiết cho việc ăn uống. Một số thì quá kích thích, khóc quá mức và không thể giữ bình tĩnh trong lúc ăn. Số khác thì buồn ngủ và không thể đánh thức hoặc không thức đủ lâu để ăn.

Sự kích thích quá mức của trẻ và khó khăn trong việc cho trẻ ăn cũng làm cha mẹ bị stress và có thể lo lắng hay trầm cảm, hoặc cả hai, thậm chí có thể biểu hiện những bệnh tâm lý nặng hơn.

Sự tương tác mẹ-trẻ trong lúc cho ăn có đặc điểm là trẻ thì quá kích thích hoặc/và buồn ngủ, mẹ thì lo lắng và căng thẳng, sự kết nối giữa mẹ và con rất rời rạc (Chatoor và cs., 1997).

Trường hợp được mô tả sau đây minh họa khó khăn của một trẻ không thể giữ bình tĩnh khi ăn, và tác động của vấn đề này lên mối quan hệ giữa mẹ và trẻ trong quá trình cho trẻ ăn.

Ví dụ: Juan nhập viện lúc 3 tháng tuổi và được chuyển đến khám tâm thần vì bé biếng ăn và chậm lớn từ lúc sanh. Thăm khám không phát hiện bệnh lý thực thể nào có thể giải thích vấn đề biếng ăn và chậm lên cân của Juan.

Mặc dù Juan sanh đủ tháng và cân nặng 3,2 kg lúc sanh, bé gặp khó khăn khi bú sữa mẹ. Mẹ của bé, Bà Avila, kể rằng bé khóc rất nhiều từ lúc sanh, rất khó dỗ và bé khó ngậm vú mẹ. Trong lúc bú bé ngọ nguậy rất nhiều và thường nhỏ núm vú và bắt đầu khóc, không thèm bú nữa. Khi bé được 4 tuần tuổi,

Bà Avila miễn cưỡng cho bé bú sữa bình vì bé sụt cân. Mặc dù bé có vẻ bú bình được nhiều hơn, bé lên cân rất chậm và vẫn nhẹ hơn 3,63 kg lúc 3 tháng tuổi.

Bà Avila có vẻ rất mệt mỏi và kể rằng Juan chỉ chịu bú 30, 60, hay 90 ml một cữ, dãy dụa, khóc và từ chối bú tiếp. Vài tiếng sau, bé có thể khóc tiếp giống như là bé đói. Tuy nhiên, bà không thể dỗ cho bé ăn tiếp, và bé có thể khóc tiếp hàng giờ không nín. Bà Avila kể rằng chị đã cố cho bé bú trung bình 10 – 15 cữ trong 24 giờ, rằng Juan khóc rất nhiều suốt ngày suốt đêm, và mọi người trong nhà không ai ngủ được.

Quan sát mối quan hệ giữa mẹ và bé trong lúc cho ăn cho thấy Juan rất tỉnh táo, ngọ nguậy không ngừng và rất khó nằm yên trong tay mẹ. Trong lúc bú bình, bé đá chân, dùng tay để xoay mình và chẳng mấy chốc núm vú trượt khỏi miệng bé.

Điều đó làm bé khó chịu và bé bắt đầu khóc. Bà Avila có vẻ rất lo lắng, Cố gắng cho bé ăn tiếp bằng cách thay đổi tư thế của bé, nhưng việc này chỉ làm bé thêm kích động. Sau khi cố gắng cho bé ăn tiếp nhiều lần mà không thành công, cả mẹ và bé đều kiệt sức và Bà Avila bỏ cuộc.

Diễn Tiến

Chưa có nghiên cứu nào theo dõi lâu dài những trẻ gặp Rối Loạn Nuôi-An do Sự Điều Chỉnh Trạng Thái để có thể hiểu rõ hơn những hậu quả khi trẻ lớn lên. Tuy nhiên, có vài báo cáo theo dõi lý thú từ Thụy Điển về những trẻ được chẩn đoán Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi.

Như đã giải thích ở trên, chẩn đoán Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi tập trung vào việc khóc quá mức, một vấn đề của sự điều chỉnh trạng thái, nhưng Đau Quận Bụng Nhũ Nhi thường đi kèm với những vấn đề ăn uống. Nghiên cứu của Lindberg, Bohlin và Hagekull (1991) dùng một bảng câu hỏi dành cho trẻ 30–70 tuần tuổi, cho thấy là những trẻ từng được chẩn đoán Đau Quận Bụng Nhũ Nhi sau này có cảm xúc kém và khó tập trung khi ăn.

Nghiên cứu của Carnivet, Jakobsson, và Hagander (năm 2000) theo dõi những trẻ từng được chẩn đoán Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi đến 4 tuổi cho thấy những trẻ nào càng có nhiều những cơn cảm xúc, càng nhiều cơn giận dữ thì càng ít hứng thú với thức ăn và việc ăn, và thường than phiền đau bụng hơn so với nhóm chứng.

Những nghiên cứu này cho thấy những vấn đề xuất hiện sớm trong quá trình điều chỉnh trạng thái và ăn uống có thể làm trẻ dễ bị những vấn đề về ăn uống sau này, và cần có thêm những nghiên cứu sâu hơn.

Sinh Bệnh Học

Chưa có nghiên cứu nào giải thích tại sao có những trẻ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc điều chỉnh trạng thái so với những trẻ khác và xuất hiện các vấn đề về ăn uống. Tuy nhiên, những nghiên cứu về Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi và những vấn đề về ăn uống có thể hé lộ một vài tia sáng về sinh bệnh học của vấn đề này liên quan đến những khó khăn của trẻ trong việc điều chỉnh trạng thái và ăn uống.

Một nghiên cứu về Đau Quặn Bụng Nhũ Nhi và các vấn đề về ăn uống do Miller-Loncar và cộng sự (2004) cho thấy rằng những tre này biểu lộ nhiều bằng chứng của trào ngược; gặp nhiều vấn đề về bú, nút do cử động hàm không nhịp nhàng hoặc khó khăn trong phối hợp bú nút, nuốt và thở; ít đáp ứng với mẹ trong quá trình tương tác ăn uống, có nhiều lúc khó chịu trong lúc ăn.

Các tác gia cho rằng có thể việc thiết lập kém các thao tác ăn uống ở những trẻ bị Đau Quận Bụng Nhũ Nhi gợi ý một rối loạn nên trong việc điều chỉnh hành vi.

Một nghiên cứu của Zwart và cộng sự (2007) trên 104 trẻ phải nhập viện vì Đau Quận Bụng Nhũ Nhi kéo dài cho thấy 71% tre có vấn đề về ăn uống, bao gồm ăn kém, trào ngược và nôn ói. Chỉ có 2 trẻ được tìm thấy có khả năng bị trào ngược dạ dày-thực quản, trong khi các trẻ còn lại không có vấn đề Y khoa nào có thể giải thích hành vi khóc và khó khăn ăn uống của chúng.

Tuy nhiên, các tác giả tìm thấy tỷ lệ thai kỳ có biến chứng, bao gồm tiền sản giật, sanh non, sanh hút hay sanh kém, hay bằng chứng suy thai nhiều hơn hẳn trong nhóm Đau Quận Bụng Nhũ Nhi (85%) so với nhóm chứng (37%).

Các tác giả giả thiết rằng các biến chứng trong thai kỳ và lúc sanh có khuynh hướng làm cha mẹ phản ứng quá mức đối với hành vi khóc của trẻ. Ủng hộ giả thuyết này, Zwart và cộng sự ghi nhận việc tham vấn cho cha mẹ và cho họ về trong đêm cho phép cả cha mẹ và trẻ lấy lại bình tĩnh và phá vỡ vòng luân

  • Hầu hết các trẻ cho thấy sự cải thiện nhanh chóng và các hành vi khóc, ăn, và ngủ trở về ngưỡng bình thường trong vòng 1-2 ngày.

Điều Trị

Vì chưa có dữ kiện tích lũy về cách thức điều trị tốt nhất cho trẻ có Rối Loạn NuôiĂn do Sự Điều Chỉnh Trạng Thái, Chatoor đã phát triển một cách thức tiếp cận cụ thể cho từng cá nhân để giúp đỡ trẻ và gia đình của trẻ. Sự can thiệp có thể trực tiếp nhằm vào trẻ, nhằm vào mẹ và nhằm vào sự tương tác mẹ-con.

Quay phim mẹ và trẻ trong lúc ăn uống và xem lại đoạn băng cùng với cha mẹ trẻ hỗ trợ rất hiệu quả cho việc thảo luận tìm xem nguyên nhân nào làm trẻ khó chịu và điều gì có thể trấn an trẻ. Nếu trẻ quá buồn ngủ để ăn và khó đánh thức trẻ, xoa bóp trẻ một cách dịu dàng có thể kích thích, giúp trẻ tỉnh táo và việc ăn uống trở nên tốt hơn.

Nếu trẻ quá kích động và cử động liên tục lúc bú, việc giảm những kích thích trước và trong lúc cho ăn bằng cách đưa trẻ vào một căn phòng yên tĩnh và quấn chặt trẻ trong lúc cho ăn có thể giúp giữ yên trẻ và giúp trẻ ăn được tốt hơn (McKenzie, 1991). Nếu bà mẹ quá mệt, quá lo lắng hay trầm cảm thì vấn đề của mẹ cũng phải được giải quyết để mẹ có thể chăm sóc trẻ hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, trong những trường hợp trẻ dễ mệt và không có khả năng hấp thu đủ calori để tăng trưởng bất chấp mọi cố gắng cải thiện ăn uống trẻ, cho ăn qua ống thông mũi-dạ dày cần phải được cân nhắc để hỗ trợ ăn uống qua đường miệng.

Trường hợp sau đây sẽ minh họa những vấn đề của trẻ và cha mẹ ảnh hưởng lẫn nhau và đưa đến những khó khăn nghiêm trọng về ăn uống như thế nào. Ca bệnh này cũng minh họa việc can thiệp hỗ trợ cho cả mẹ và trẻ sẽ giúp phá vỡ vòng luẩn quân gây căng thẳng cho cả mẹ và trẻ, giúp cho mối tương tác mẹ-con trở nên thú vị hơn, mang lại sự tiến bộ trong việc ăn uống cho trẻ.

Ví dụ: Mark nhập viện lúc 3 tháng tuổi vì rất khó đánh thức bé dậy cho bú, bú rất ít sữa, chỉ lên được 450 g từ lúc sanh và càng lúc càng yếu. Sau khi thăm khám và các xét nghiệm không thể phát hiện bất kỳ bệnh lý thực thể nào có thể giải thích việc bé biếng ăn và châm lên cân, bé được khám về tâm thần.

Mẹ của Mark, Bà Meyer, khóc và giải thích cho bác sĩ tâm thần rằng bà đã có thông báo với bác sĩ nhi khoa là có điều gì không ổn với Mark, rằng bé hầu như không tỏ ra đói và lăn ra ngủ trong lúc cho bú, rằng bà đã cố mọi cách dụ bé bú và bà không hiểu tại sao các bác sĩ không tìm ra được vấn đề. Bà kể tiếp buổi tối bà không thể ngủ, lo lắng rằng Mark sẽ chết, rằng bà phải kiểm tra bé, đánh thức bé dậy để chắc là bé còn sống.

Mark là con đầu, sau khi Bà Meyer đã bị sẩy thai 2 lần trước đó. Trong 4 tuần cuối của thai kỳ này Bà Meyer phải nằm tại giường vì bị tăng huyết áp và dọa sanh non, nhưng cuộc chuyển dạ không gặp biến Cố gì. Mark sanh đủ tháng, cân nặng lúc sanh 2,97 kg.

Mẹ Cố cho bé bú vú, nhưng vì Mark nút kém và thường buồn ngủ chỉ sau vài phút, bác sĩ nhi khoa đề nghị cho bé bú sữa bình. Ban đầu, Mark có vẻ bú được nhiều hơn khi dùng bình sữa, nhưng bé không bao giờ bú hơn 90 -120 ml một cữ và ngủ gục ngay.

Mẹ bé đã rất lo lắng và cố cho bé bú mỗi 1 đến 2 giờ.

Tuy nhiên, khi bà đánh thức bé dậy để cho bú, bé bắt đầu khóc và khóc hơn một giờ không thể dỗ được. Vì ban ngày Mark ăn quá ít, mẹ bé bắt đầu đánh thức bé dậy về đêm vừa để kiểm tra vừa để cho bé ăn.

Nhưng việc cho ăn về đêm càng lúc càng stress hơn, vì hễ thức dậy là Mark khóc và đôi khi mẹ bé phải mất hàng giờ mới dỗ bé được. Chồng Bà Meyer phải chuyển ra phòng khách vì ông không ngủ được khi bé khóc suốt đêm và sáng hôm sau không đi làm nổi.

Bà Meyer thú nhận rằng bà cảm thấy kiệt sức và sợ hãi chính đứa con của bà, và quan hệ giữa bà và chồng trở nên rất căng thẳng.

Được sự chấp thuận của Bà Meyer, buổi ăn của mẹ và bé được quan sát và quay phim lại từ sau tấm gương một chiều.

Bà Meyer vào và Mark đang ngủ trong vòng tay mẹ. Bà cố đánh thức bé dậy bằng cách dựng người bé thẳng đứng, nhưng mặc dù đầu bé lắc lư vì bé chưa giữ đầu thẳng được, bé vẫn không thức.

Bà Meyer bắt đầu nhéo vào chân bé và thình lình bé khóc, rồi nhanh chóng chuyển sang gào thét.

Bà Meyer trông sợ hãi và bắt đầu đi lại trong phòng trong khi Mark tiếp tục khóc trên vai mẹ. Sau khi Mark khóc được 15 phút, bác sĩ phải can thiệp và nhờ một điều dưỡng đưa Mark về buồng, trong khi bác sĩ ở lại để xoa dịu bà mẹ.

Bác sĩ giải thích cho Bà Meyer rằng bà và bé Mark có một cách cho bú rất căng thẳng, cả hai người đều kiệt sức và cần nghỉ ngơi.

Bác sĩ đề nghị hãy để điều dưỡng thay mẹ cho Mark ăn và trong khoảng thời gian này bà Meyer nên về nhà ngủ một giấc.

Bác sĩ hẹn gặp cả cha mẹ bé vào ngày hôm sau để thảo luận những khuyến cáo chữa trị sâu hơn.

Các điều dưỡng báo cáo rằng thực sự rất khó đánh thức Mark dậy để cho ăn, và bé chuyển ngay lập tức từ không đáp ứng sang gào khóc.

Họ đề nghị cho Mark ăn trong một căn phòng yên tĩnh và dùng một vài động tác mát xa nhẹ nhàng dành cho nhũ nhi để kích thích và đánh thức bé. Họ cũng thiết lập một lịch trình cho bú mỗi 3 giờ để bé phục hồi lại cách ngủ bình thường và có cảm giác đói bụng khi cho bú.

Mark đáp ứng tốt với những thay đổi này và trong vòng vài ngày bé trở nên tỉnh táo hơn trong lúc bú và bú được 120 – 150 ml mỗi cữ. Trong lúc này, bác sĩ tâm thần gặp cha mẹ trẻ và được biết rằng Bà Meyer không thể ngủ được về đêm, ban ngày thì khóc và tự trách mình về những vấn đề ăn uống mà Mark đang gặp phải.

Ông Meyer cố xoa dịu và trấn an vợ rằng bà đã cố gắng hết sức, nhưng Bà Meyer vẫn tràn đầy mặc cảm có lỗi. Bác sĩ tâm thần giải thích cho cha mẹ bé rằng Mark gặp khó khăn trong việc điều chỉnh sự ngủ và thức, điều đó ảnh hưởng việc bú của bé, và mẹ và bé đã lựa chọn một cách thức tương tác rất căng thẳng.

Bác sĩ đề nghị Bà Meyer điều trị chứng trầm cảm và Bà Meyer đồng ý.

Đồng thời, các điều dưỡng hướng dẫn Bà Meyer cách kích thích Mark bằng những động tác xoa bóp nhẹ nhàng để giúp Mark chuyển từ ngủ sang thức giấc, và khi Bà Meyer đã tự tin hơn, bà bắt đầu cho bé bú lại trong bệnh viện.

Song song đó, một nhà vật lý trị liệu tập cho Mark và hướng dẫn cho Bà Meyer cách tập cho Mark tại nhà để cải thiện trương lực cơ cho bé. Mark được cân hàng ngày và bắt đầu tăng cân đều đặn. Sau 2 tuần điều trị trong bệnh viện, Mark trở nên khỏe hơn, việc ăn uống cũng dễ dàng hơn,

Bà Meyer cảm thấy đủ tự tin vào khả năng nuôi con của mình và Mark xuất viện.

Mark và mẹ tiếp tục đến gặp bác sĩ tâm thần mỗi tuần trong nhiều tuần sau đó và rồi mỗi hai tuần trong một vài tháng sau để ghi hình các buổi ăn và thảo luận về hành vi của Mark. Bà Meyer dần dần hết trầm cảm và ngày càng tự tin vào khả năng bản thân trong việc hiểu được các cử chỉ của Mark và chăm sóc bé.

Mark cải thiện dần sự ngon miệng và vào lúc 6 tháng bé đã lấy lại đường biểu diễn tăng trưởng bình thường, nghĩa là cân nặng của bé đã phục hồi.

Bé tiếp tục cần một thời gian đáng kể để ngủ và sinh hoạt tốt theo thời gian biểu gồm hai giấc ngủ ngắn ban ngày và đi ngủ sớm ban đêm. Bé đã từng là một cậu bé rất nhạy cảm, khóc rất dữ khi khó chịu và cần nhiều thời gian để dỗ. Nhưng với sự thấu hiểu của mẹ về vấn đề sức khỏe này, bé đã khắc phục, trở thành một cậu bé rất dễ thương lúc 6 tháng tuổi.

Chẩn Đoán Phân Biệt

Rối loạn nuôi-ăn do sự điều chỉnh trạng thái nên là một chấn đoán loại trừ sau khi đã truy tìm các nguyên nhân thực thể có thể ảnh hưởng đến sự điều chỉnh trạng thái của trẻ. Theo Roberts, Ostapchuk và O’Brien (2004), 5% nhũ nhi biểu hiện khóc quá mức được tìm thấy có bệnh thực thể nền.

Đáng chú ý nhất là bệnh trào ngược dạ dày-thực quản cần phải đưa vào chẩn đoán phân biệt. Được nói đến kỹ hơn trong chương Rối Loạn Nuôi-ăn Liên Quan Đến một Bệnh Nội khoa, nhũ nhi bị trào ngược dạ dày-thực quản “im lặng” có thể không nôn ói nhưng khóc rất nhiều, trở nên khó chịu khi ăn, ưỡn người và từ chối ăn tiếp. Nếu nhũ nhi có biểu hiện chỉ ăn ít và buồn ngủ trong lúc ăn, cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lý tim mạch hay hộ hấp.

Chẩn đoán Rối Loạn Nuôi-Ăn do Sự Điều Chỉnh Trạng Thái cần được cân nhắc thêm vào khi việc điều trị bệnh thực thể, ví dụ bệnh tim mạch hay hô hấp, không thể giải quyết được khó khăn của trẻ trong việc điều chỉnh trạng thái.

Tài Liệu Tham Khảo

Canivet, C., Jakobsson, I., & Hagander, B. (2000). Infantile colic. Follow-up at four years of age: Still

more “emotional.” Acta Paediatrica, 89, 13–17. Chatoor, I., & Ammaniti, M. (2007). A classification of feeding disorders of infancy and early childhood.

In W. E. Narrow, M. B. First, P. Sirovatka, & D. A. Regier (Eds.), Age and gender considerations in psychiatric diagnosis: A research agenda for DSM-V (pp. 227–242). Arlington, VA: American Psychiatric

Press. Chatoor, I., Dickson, L., Schaefer, S., & Egan, J. (1985). A developmental classification of feeding disor

ders associated with failure-to-thrive: Diagnosis and treatment. In D. Drotar (Ed.), New directions in

failure to thrive: Research and clinical practice (pp. 235-258). New York: Plenum. Chatoor, I., Getson, P., Menvielle, E., O’Donnell, R., Rivera, Y., Brasseaux, C., & Mrazek, D. (1997).

A feeding scale for research and clinical practice to assess mother-infant interactions in the first three

years of life. Infant Mental Health Journal, 18, 76–91. Lindberg, L., Bohlin, G., & Hagekull, B. (1991). Early feeding problems in a normal population. The

International Journal of Eating Disorders, 10, 395–405. McKenzie, S. (1991). Troublesome crying in infants: Effects of advice to reduce stimulation. Archives of

Disease in Childhood, 66, 1416–1420. Miller-Loncar, C., Bigsby, R., High, P., Wallach, M., & Lester, B. (2004). Infant colic and feeding difficul

ties. Archives of Disease in Childhood, 89, 908-912. Narrow, W. E., First, M. B., Sirovatka, P., & Regier, D. A. (Eds.). (2007). Age and gender considerations

in psychiatric diagnosis: A research agenda for DSM-V. Arlington, VA: American Psychiatric Press. Roberts, D. M., Ostapchuk, M., & O’Brien, J. G. (2004). Infantile colic. American Family Physician, 70,

735–740. Wessel, M. A., Cobb, J. C., Jackson, E. B., Harris, G. S., Jr., & Detwil, A. C. (1954). Paroxysmal fussing

in infancy, sometimes called colic. Pediatrics, 14, 421-435. ZERO TO THREE. (2005). Diagnostic classification of mental health and developmental disorders of

infancy and early childhood: Revised edition (DC:0–3R). Washington, DC: Author. Zwart, P., Vellema-Goud, M. G. A., & Brand, P. L. P. (2007). Characteristics of infants admitted to hospi

tal for persistent colic, and comparison with healthy infants. Acta Paediatrica, 96, 401-405.nts. Acta Paediatrica, 96, 401-405.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *